Huyền bí khèn Mông

0

Mùa xuân này, đến thăm các bản đồng bào Mông ở Điện Biên nói riêng và các tỉnh Tây Bắc nói chung, du khách sẽ được khám phá nhiều điều thú vị: Trang phục dân tộc rực rỡ sắc màu, các món ăn lạ miệng với rượu Mông pê say dịu, khiến lòng ta lâng lâng khó tả…

Nhưng có điều đặc biệt hơn cả là du khách được đắm chìm, ngây ngất trong lời ca, điệu khèn, tiếng sáo… Người Mông say đắm dân ca dân tộc mình: Tiếng hát tình yêu (gầu plềnh), Tiếng hát cưới xin (gầu xuống), Tiếng hát làm dâu (gầu na nhéng), Tiếng hát mồ côi (gầu tú gua), Tiếng hát cúng ma (gầu tuờ)… Những bài hát dân ca này không chỉ hát bằng lời mà còn có thể giãi bày thông qua những nhạc cụ dân tộc (sáo, khèn, kèn lá, kèn môi…) trong những dịp lễ hội như lễ hội Nào pê chầu (Tết ba mươi), Gầu tào (đón năm mới)… với những trò chơi dân gian, dân nhạc, dân ca, dân vũ. Nhạc cụ dân tộc được coi là linh hồn của người Mông, gửi gắm và thể hiện tiếng lòng của mình với bạn tình, với cộng đồng và với thiên nhiên núi rừng hùng vĩ.

huyen bi khen mong Huyền bí khèn Mông

Nhạc cụ dân tộc Mông thể hiện sâu nặng chất trữ tình đằm thắm, mượt mà, khoẻ khoắn. Âm thanh là vẻ đẹp tự nhiên của vùng cao bao la, hùng vĩ, nét tươi sáng và giản dị của tâm hồn con người. Âm nhạc người Mông, nhạc cụ dân tộc Mông chiếm được cảm tình của tuyệt đại đa số đồng bào Mông, làm say lòng công chúng trong cộng đồng các dân tộc anh em, đặc biệt là những người làm nghệ thuật âm nhạc. Đáng chú ý là cây khèn cổ truyền của người Mông. Thân khèn Mông được chế tác bằng gỗ pơmu cùng sáu ống trúc lớn, nhỏ, dài, ngắn khác nhau. Sáu ống trúc tượng trưng cho tình anh em tụ hợp. Chúng được xếp khéo léo, song song trên thân khèn; ta tưởng tượng như dòng nước đang trôi, chở thứ âm thanh huyền diệu, chảy mãi từ ngọn nguồn lịch sử cho đến tận bến bờ hiện tại.

Tiếng khèn ngấm sâu vào máu thịt người Mông. Con trai 13 tuổi đã có cây khèn trên vai mỗi khi lên nương, xuống chợ. Khi buồn, khi vui, người Mông đều mang khèn ra thổi, gửi cả tâm tư, tình cảm của mình vào tiếng khèn. Trong những dịp lễ, tết, tiếng khèn Mông vang vọng khắp núi rừng. Người già vẫn bảo: Tiếng khèn là phần hồn của người Mông. Những chàng trai Mông thổi khèn hay, múa khèn dẻo luôn nhận được sự quý mến, nể phục của nhiều người. Người Mông thích nghe tiếng khèn, thích thổi khèn và múa khèn là thể hiện lịch sử của một dân tộc, về tình mẫu tử, huynh đệ và về lẽ sống làm người chứ không phải là lời tỏ tình như một số người vẫn lầm tưởng. Khèn Mông thường được sử dụng trong hai trường hợp: Đám tang để tỏ lòng xót thương, luyến tiếc người quá cố; trong vui chơi để thi thố tài nghệ, bộc lộ bản chất ý chí, nghị lực của con người trong sinh hoạt cộng đồng.

Theo nhà văn Phùng Chiến (Hội Văn nghệ Lào Cai), thì cây khèn của người Mông là loại nhạc cụ chủ yếu dùng để thổi trong đám ma, lễ hội, ngày hội, chợ phiên… hoặc múa biểu diễn có tính chất tài tử theo các hình thức độc diễn (một người) hoặc song diễn (hai hoặc ba, bốn người)… Trong những ngày hội, các chàng trai Mông biểu diễn khèn trước đông người với mục đích thi thố tài năng giữa trai bản này với trai bản khác, chứ tuyệt đối không có bài khèn nào có nội dung tỏ tình với người con gái. Thế mà các nhà biên đạo múa không hiểu sao lại dựng cảnh những chàng trai Mông dùng cây khèn múa quấn quýt bên cô gái Mông như một kiểu tỏ tình say đắm. Rồi có cảnh trong ngày hội xuân, một chàng trai Mông kéo một cô gái Mông ra bờ suối, cô gái thì cầm ô che, chàng trai thì cầm khèn thổi, ngả nghiêng trao tình… Những cảnh như thế không chỉ diễn ra phổ biến ở các điệu múa, vở diễn của quần chúng mà ngay trong chương trình của các đoàn chuyên nghiệp cũng mắc phải. Lại có một bộ phim truyện truyền hình do một đạo diễn nổi tiếng người Hà Nội thực hiện, trong đó có cảnh quay một chàng trai Mông đi học chữ ở trường xã đem lòng yêu cô giáo (là người Hà Nội) của mình. Một buổi tối, chàng học sinh này đem khèn đến đầu phòng cô giáo để tỏ tình… Xem cảnh ấy, bà con địa phương tỏ thái độ rất bất bình, họ nhận xét: “Người dựng phim không hiểu gì về văn hoá dân tộc Mông. Con trai Mông không dùng khèn để tỏ tình, đó là người Kinh tự nghĩ ra thôi!”.

Viết về sự huyền bí của cây khèn truyền thống trong vốn văn hóa phi vật thể dân tộc Mông, nhà nghiên cứu Đinh Đức Cần cho rằng: “Chiếc khèn mông được sử dụng rất đa dạng theo từng bối cảnh khác nhau. Các bài hát về nghi lễ, ngoại giao đón khách, chúc mừng trong cưới xin, tả cảnh tả tình, tôn vinh ca ngợi người có công nguồn gốc sự kiện như bài: “Ai tìm ra giống cây trồng”. Có bài để thổi bắt nhịp cho các bài múa võ, tập luyện… Chiếc khèn cứ thổi lên các bản nhạc, có khi kèm theo các vũ điệu và người nghe, người xem cảm nhận theo khả năng của mình, nhiều khi (và thông thường) cũng ít biết được họ đang thổi bài gì, lời lẽ ra sao? Nhiều người chủ quan võ đoán theo ý mình không đúng với những gì họ đang thể hiện qua chiếc khèn”…

An Tâm

Từ khóa tìm kiếm

  • huong dan lam khen mong
Chia sẻ bài viết:

Bình luận bài viết